QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1315

QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1315 XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO CÓ SAI SÓT TRỌNG YẾU  THÔNG QUA HIỂU BIẾT VỀ ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN VÀ MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số  02/2016/QĐ-KTNN

ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)

 
   

 

 

QUY ĐỊNH CHUNG

Cơ sở xây dựng

  1. Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 – Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 – Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1315 của INTOSAI – Xác định và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị.

Mục đích và phạm vi áp dụng 

  1. Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước trong việc xác định, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính đối với mọi cuộc kiểm toán tài chính của Kiểm toán nhà nước, nhằm giúp kiểm toán viên nhà nước xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá. 
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.

Giải thích thuật ngữ

  1. Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
  • Cơ sở dẫn liệu: Là những khẳng định của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán một cách trực tiếp hoặc dưới hình thức khác về các khoản mục, thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và được kiểm toán viên nhà nước sử dụng để xem xét các loại sai sót có thể xảy ra. Các cơ sở dẫn liệu được kiểm toán viên nhà nước sử dụng để xem xét các loại sai sót có thể xảy ra được chia thành ba loại như sau:
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với các nghiệp vụ kinh tế và sự kiện trong kỳ được kiểm toán gồm: tính phát sinh; tính đầy đủ; tính chính xác; tính đúng kỳ; phân loại.
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với số dư tài khoản vào cuối kỳ gồm: tính hiện hữu; quyền và nghĩa vụ; tính đầy đủ; đánh giá và phân bổ.
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với các trình bày và thuyết minh gồm: tính hiện hữu, quyền và nghĩa vụ; tính đầy đủ; phân loại và tính dễ hiểu; tính chính xác và đánh giá.
  • Rủi ro hoạt động: Là rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động phù hợp có thể ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ của đơn vị được kiểm toán;
  • Kiểm soát nội bộ: Là các quy định, quy trình do đơn vị xây dựng, ban hành và duy trì thực hiện để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu lực hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Kiểm soát trong thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều bộ phận của kiểm soát nội bộ;
  •  Thủ tục đánh giá rủi ro: Là thủ tục kiểm toán được thực hiện để thu thập các hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu;
  • Rủi ro đáng kể: Là rủi ro có sai sót trọng yếu đã được xác định và đánh giá mà theo xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên nhà nước phải đặc biệt lưu ý khi kiểm toán.

Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

Thủ tục đánh giá rủi ro

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu. Tuy nhiên, nếu chỉ thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro thì chưa cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp. Vì vậy, kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện thử nghiệm cơ bản hoặc thử nghiệm kiểm soát đồng thời với các thủ tục đánh giá rủi ro để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán.
  2. Thu thập những hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ là một quá trình liên tục về thu thập, cập nhật và phân tích thông tin trong suốt quá trình kiểm toán. Hiểu biết về đơn vị được kiểm toán giúp kiểm toán viên nhà nước có cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện các xét đoán chuyên môn trong suốt quá trình kiểm toán, như:
  • Đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính;
  • Xác định mức trọng yếu theo quy định tại CMKTNN 1320 – Xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính;
  • Đánh giá sự phù hợp trong việc chọn lựa, áp dụng các chính sách kế toán và tính đầy đủ, thích hợp của các thuyết minh báo cáo tài chính;
  • Xác định các khoản mục cần đặc biệt lưu ý khi kiểm toán;
  • Xây dựng các ước tính để sử dụng khi thực hiện thủ tục phân tích;
  • Biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã đánh giá, gồm thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo để thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp;
  • Đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán đã thu thập.
  1. Kiểm toán viên nhà nước phải sử dụng thông tin thu thập được từ thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan để làm bằng chứng kiểm toán hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. Ngoài ra, kiểm toán viên nhà nước cần thu thập thêm bằng chứng kiểm toán về các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh và các cơ sở dẫn liệu liên quan, về tính hữu hiệu của các hoạt động kiểm soát.
  2. Kiểm toán viên nhà nước cần sử dụng xét đoán chuyên môn xác định mức độ hiểu biết về đơn vị được kiểm toán cần phải có để đáp ứng được mục tiêu quy định trong Chuẩn mực này.
  3. Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá rủi ro, bao gồm rủi ro do gian lận và rủi ro do nhầm lẫn. Riêng rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được quy định chi tiết các thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan để thu thập thông tin nhằm xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận tại CMKTNN 1240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước liên quan đến gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính.
  4. Trong quá trình thu thập các thông tin cần thiết về đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện toàn bộ các thủ tục đánh giá rủi ro, song không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ các thủ tục cho mỗi khía cạnh của thông tin cần tìm hiểu. Kiểm toán viên nhà nước có thể áp dụng các thủ tục khác nếu xét thấy hữu ích cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu (như soát xét các thông tin thu được từ báo chí, truyền thông hoặc phỏng vấn các chuyên gia về kinh tế, pháp lý…).
  5. Thủ tục đánh giá rủi ro phải bao gồm các bước sau:
  • Phỏng vấn lãnh đạo và nhân viên quản lý trong đơn vị mà theo xét đoán của kiểm toán viên nhà nước có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn, như:
  • Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo đơn vị giúp kiểm toán viên nhà nước hiểu được môi trường lập báo cáo tài chính;
  • Phỏng vấn trực tiếp bộ phận thanh tra, kiểm soát hoặc kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin về các thủ tục mà các bộ phận này đã thực hiện liên quan đến thiết kế và tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ cũng như các biện pháp xử lý thích hợp của đơn vị đối với những phát hiện sai sót;
  • Phỏng vấn các nhân viên thực hiện việc tạo lập, xử lý và ghi chép các nghiệp vụ phức tạp và bất thường có thể giúp kiểm toán viên nhà nước đánh giá tính thích hợp trong lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán nhất định;
  • Phỏng vấn trực tiếp bộ phận pháp chế của đơn vị cung cấp thông tin về các vấn đề như tranh chấp, kiện tụng, tuân thủ pháp luật và các quy định, những thông tin về gian lận hoặc nghi ngờ gian lận ảnh hưởng tới đơn vị.
  • Thủ tục phân tích: Thực hiện thủ tục phân tích trong quy trình đánh giá rủi ro có thể liên quan đến các thông tin tài chính và phi tài chính giúp kiểm toán viên nhà nước có cơ sở thiết kế và tiến hành các thủ tục kiểm toán đối với rủi ro đã đánh giá, như:
  • Xác định được các đặc điểm của đơn vị mà kiểm toán viên nhà nước chưa biết;
  • Xác định sự tồn tại của các giao dịch, sự kiện bất thường, các số liệu, tỷ trọng và xu hướng có thể là dấu hiệu của các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán; phát hiện được những mối quan hệ bất thường và ngoài dự kiến giúp kiểm toán viên nhà nước xác định được rủi ro có sai sót trọng yếu, đặc biệt là những rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận;
  • Khi thủ tục phân tích sử dụng những dữ liệu tổng hợp, kết quả phân tích chỉ cung cấp những thông tin chung ban đầu về khả năng có thể xảy ra sai sót trọng yếu. Do đó, việc xem xét những thông tin khác đã thu thập được khi xác định rủi ro có sai sót trọng yếu cùng với kết quả của thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên nhà nước hiểu và đánh giá kết quả của thủ tục phân tích.
  • Quan sát và kiểm tra có thể hỗ trợ cho việc phỏng vấn lãnh đạo đơn vị, các cá nhân khác trong đơn vị, đồng thời cung cấp thêm những thông tin về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, như:
  • Tài liệu, báo cáo được lãnh đạo đơn vị báo cáo với cơ quan chức năng;
  • Báo cáo hoặc giải trình về tiến độ, kết quả hoạt động của các bộ phận;
  • Văn bản pháp lý đặc thù có liên quan đến hoạt động của đơn vị;
  • Các tài liệu, báo cáo hoặc biên bản làm việc của các cơ quan chức năng với đơn vị;
  • Các tài liệu (dự toán, kế hoạch), hồ sơ hướng dẫn về kiểm soát nội bộ;
  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị…
  1. Kiểm toán viên nhà nước phải xem xét tính phù hợp của các thông tin thu thập được từ thủ tục đánh giá rủi ro để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu trong việc quyết định lựa chọn đơn vị được kiểm toán.

Thông tin thu thập từ các cuộc kiểm toán trước

  1. Trường hợp dự định sử dụng các thông tin thu thập được từ kinh nghiệm kiểm toán hoặc từ các thủ tục kiểm toán đã thực hiện với đơn vị được kiểm toán trong các năm trước, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá tính phù hợp của thông tin để sử dụng cho cuộc kiểm toán hiện tại. Để xác định tính thích hợp của thông tin, kiểm toán viên nhà nước cần phỏng vấn và thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp khác.
  2. Kinh nghiệm và các thủ tục kiểm toán đã thực hiện trong các cuộc kiểm toán trước cung cấp cho kiểm toán viên nhà nước những thông tin:
  • Các sai sót trong quá khứ và tình hình thực hiện sửa chữa, khắc phục các sai sót đó;
  • Đặc điểm và môi trường hoạt động của đơn vị được kiểm toán, trong đó có kiểm soát nội bộ;
  • Các thay đổi quan trọng trong hoạt động của đơn vị được kiểm toán kể từ kỳ kế toán trước cho đến thời điểm hiện tại giúp kiểm toán viên nhà nước hiểu biết đầy đủ hơn về đơn vị để xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu.

Thảo luận trong Đoàn kiểm toán

  1. Lãnh đạo và các thành viên trong Đoàn kiểm toán phải thảo luận về khả năng báo cáo tài chính của đơn vị dễ xảy ra sai sót trọng yếu và sự phù hợp trong việc áp dụng các quy định lập, trình bày báo cáo tài chính với điều kiện và hoàn cảnh của đơn vị. Lãnh đạo Đoàn kiểm toán có thể chỉ thảo luận với những thành viên chủ chốt và thông báo lại bằng văn bản cho các thành viên khác trong Đoàn kiểm toán.
  2. Việc thảo luận trong Đoàn kiểm toán về khả năng báo cáo tài chính dễ xảy ra sai sót trọng yếu nhằm:
  • Tạo cơ hội cho các thành viên có nhiều kinh nghiệm trong Đoàn kiểm toán chia sẻ các quan điểm dựa trên những kinh nghiệm và hiểu biết về đơn vị;
  • Cho phép các thành viên trong Đoàn kiểm toán trao đổi thông tin, hiểu rõ hơn về những rủi ro, trọng yếu hoặc những khoản mục trong báo cáo tài chính dễ bị sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn và nguyên nhân dẫn đến những sai sót đó;
  • Tạo cơ sở cho các thành viên của Đoàn kiểm toán trao đổi và chia sẻ những thông tin mới thu thập được trong suốt quá trình kiểm toán có ảnh hưởng tới việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu.

Những hiểu biết cần có về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị

Đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu các thông tin sau:
  • Lĩnh vực, ngành nghề quản lý hoạt động; các quy định pháp lý và các yếu tố khác có liên quan, như:
  • Lĩnh vực quản lý, hoạt động của đơn vị;
  • Chế độ kế toán liên quan đến đơn vị đang hoạt động;
  • Quy định pháp lý đặc thù có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của đơn vị;
  • Chính sách về thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp và các thuế khác);
  • Các chủ trương, chính sách của Nhà nước ban hành đang ảnh hưởng tới hoạt động của đơn vị (chính sách tiền tệ, tài chính, tái cấu trúc nền kinh tế hoặc sự cắt giảm về ngân sách…);
  • Các quy định về môi trường ảnh hưởng đến ngành và lĩnh vực hoạt động của đơn vị;
  • Tình hình chung về kinh tế, lãi suất và các nguồn lực tài chính nhàn rỗi, lạm phát hoặc biến động tỷ giá…
  • Đặc điểm của đơn vị: Chức năng, nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức bộ máy, sự phân cấp và mối quan hệ giữa các đơn vị trực thuộc trong hệ thống tổ chức bộ máy; cơ chế phân cấp về quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí và tài sản; bản chất của các nguồn thu, chi (ngân sách nhà nước, hoạt động sự nghiệp và sản xuất, kinh doanh dịch vụ); quy trình hoạt động và các thay đổi đáng kể so với các kỳ trước trong hoạt động của đơn vị…
  • Chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng và lý do thay đổi (nếu có), như:
  • Các phương pháp mà đơn vị sử dụng để hạch toán các nghiệp vụ kinh tế quan trọng và các giao dịch bất thường;
  • Những thay đổi trong chính sách kế toán của đơn vị;
  • Các chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính, pháp luật và các quy định mới đối với đơn vị và thời điểm, cách thức đơn vị thực hiện các yêu cầu này.
  • Các nguyên tắc kế toán và các quy định đặc thù của từng ngành nghề.
  • Mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện và cách thức đo lường, đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị:
  • Mục tiêu và nhiệm vụ về phát triển, mở rộng ngành nghề, quy mô hoạt động hoặc sử dụng công nghệ thông tin, tuân thủ các yêu cầu mới về tài chính, kế toán có thể dẫn đến rủi ro hoạt động và rủi ro có sai sót trọng yếu đối với các nhóm giao dịch phát sinh, số dư tài khoản và thuyết minh ở cấp độ cơ sở dẫn liệu hoặc cấp độ báo cáo tài chính;
  • Việc xác định và đánh giá kết quả hoạt động hoặc mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị có thể tạo ra áp lực cho đơn vị phải cải thiện kết quả hoạt động hoặc làm sai lệch báo cáo tài chính. Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu biết về cách đo lường kết quả hoạt động của đơn vị để xem xét mức độ ảnh hưởng của các áp lực dẫn đến làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu, kể cả sai sót do gian lận. Phụ lục 01 Đoạn A1 Chuẩn mực này hướng dẫn chi tiết về một số thông tin sử dụng để đo lường và đánh giá kết quả hoạt động.

Kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu các thông tin về kiểm soát nội bộ của đơn vị có liên quan đến cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên nhà nước phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định kiểm soát nào, riêng lẻ hay kết hợp với kiểm soát khác, có liên quan tới cuộc kiểm toán. Phụ lục 01 Đoạn A2-A7 hướng dẫn chi tiết về các kiểm soát liên quan.

Mục đích của kiểm soát nội bộ

  1. Hiểu biết về kiểm soát nội bộ giúp kiểm toán viên nhà nước xác định các loại sai sót tiềm tàng, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro có sai sót trọng yếu và xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo.
  2. Kiểm soát nội bộ được thiết kế và thực hiện song có thể thay đổi theo quy mô và mức độ phức tạp của đơn vị nhằm giải quyết các rủi ro hoạt động đã được xác định mà các rủi ro này ảnh hưởng đến việc không đạt được một trong các mục tiêu liên quan đến:
  • Độ tin cậy của quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính;
  • Hiệu quả và hiệu lực hoạt động;
  • Sự tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành.

Các hạn chế của kiểm soát nội bộ

  1. Do những hạn chế vốn có, kiểm soát nội bộ dù hiệu quả đến mức nào, cũng chỉ cung cấp cho đơn vị một sự đảm bảo hợp lý để đạt được mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính. Các hạn chế này gồm:
  • Việc con người có thể có sai lầm khi đưa ra quyết định và hoạt động của kiểm soát nội bộ kém hiệu quả xảy ra do sai sót của con người;
  • Các thủ tục kiểm soát bị vô hiệu hóa do sự thông đồng của hai hay nhiều người hoặc bị lãnh đạo đơn vị khống chế;
  • Khi thiết kế và thực hiện các kiểm soát, lãnh đạo đơn vị có thể dự định về phạm vi, mức độ các kiểm soát lựa chọn để thực hiện, cũng như phạm vi, mức độ rủi ro mà họ có thể chấp nhận.

Các bộ phận hợp thành của kiểm soát nội bộ

  1. Thông thường, kiểm soát nội bộ được chia thành năm bộ phận nhằm cung cấp một khuôn khổ giúp kiểm toán viên nhà nước xem xét các khía cạnh khác nhau trong kiểm soát nội bộ của đơn vị, gồm:
  • Môi trường kiểm soát;
  • Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị;
  • Hệ thống thông tin liên quan đến lập và trình bày báo cáo tài chính bao gồm các quy trình hoạt động có liên quan và trao đổi thông tin;
  • Các hoạt động kiểm soát;
  • Giám sát các kiểm soát.
  1. Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm các yếu tố thủ công và các yếu tố tự động. Đặc điểm của các yếu tố thủ công và yếu tố tự động có liên quan đến việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên nhà nước cũng như các thủ tục kiểm toán tiếp theo dựa trên kết quả đánh giá đó. Phụ lục 01 Đoạn A8-A12 hướng dẫn chi tiết về đặc điểm các yếu tố thủ công và tự động ảnh hưởng đến đánh giá rủi ro.

Môi trường kiểm soát

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu về môi trường kiểm soát của đơn vị. Trong quá trình tìm hiểu, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá: Việc đơn vị ban hành, duy trì văn hóa trung thực và giá trị đạo đức; các điểm mạnh và khiếm khuyết của môi trường kiểm soát.
  2. Môi trường kiểm soát bao gồm các chức năng kiểm soát và quản lý, các quan điểm, nhận thức, hành động của lãnh đạo đơn vị liên quan đến kiểm soát nội bộ và tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động của đơn vị. Môi trường kiểm soát tạo nên đặc điểm chung của một đơn vị có tác động trực tiếp đến ý thức của từng thành viên trong đơn vị về công tác kiểm soát.
  3. Để tìm hiểu về môi trường kiểm soát của đơn vị, kiểm toán viên nhà nước xem xét các yếu tố sau đây:
  • Truyền đạt thông tin, tính chính trực và giá trị đạo đức: Tính hữu hiệu của các kiểm soát không thể cao hơn các giá trị đạo đức và tính chính trực của những người thiết kế, quản lý và giám sát các kiểm soát đó. Việc thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức để loại bỏ hoặc giảm thiểu các động cơ xúi giục nhân viên tham gia vào các hành động thiếu trung thực, bất hợp pháp hoặc phi đạo đức. Việc truyền đạt về tính chính trực và các giá trị đạo đức tới nhân viên thông qua các chính sách của đơn vị, các quy tắc đạo đức và bằng tấm gương điển hình.
  • Đảm bảo về năng lực: Sự cân nhắc của lãnh đạo đơn vị về các mức độ năng lực cần đáp ứng cho mỗi nhiệm vụ cụ thể, các kỹ năng và kiến thức cần thiết tương ứng.
  • Hoạt động của bộ phận kiểm soát:
  • Độc lập đối với lãnh đạo đơn vị;
  • Có kinh nghiệm và vị thế;
  • Mức độ tham gia của bộ phận kiểm soát, những thông tin bộ phận kiểm soát nhận được, soát xét và xử lý;
  • Tính hợp lý trong hành động của bộ phận kiểm soát.
  • Triết lý và phong cách điều hành của lãnh đạo đơn vị:
  • Cách thức tiếp cận và quản lý rủi ro hoạt động;
  • Quan điểm và hành động đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính;
  • Quan điểm đối với việc xử lý thông tin, công việc tài chính, kế toán và nhân sự.
  • Cơ cấu tổ chức: Việc thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp mà theo đó các hoạt động của đơn vị được lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và soát xét nhằm đạt được mục tiêu. Sự phù hợp của cơ cấu tổ chức phụ thuộc một phần vào quy mô và đặc điểm hoạt động của đơn vị.
  • Phân công quyền hạn và trách nhiệm: Cách thức phân công quyền hạn và trách nhiệm đối với các hoạt động; cách thức thiết lập trình tự hệ thống báo cáo và sự phân cấp quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp.
  • Các chính sách và quy định về nhân sự: Các chính sách và quy định liên quan đến các hoạt động tuyển dụng, định hướng, đào tạo, đánh giá, hướng dẫn, thăng tiến nhân viên, lương, thưởng và các biện pháp khắc phục sai sót.
  1. Các bằng chứng kiểm toán thích hợp về các yếu tố của môi trường kiểm soát có thể được thu thập bằng việc kết hợp thủ tục phỏng vấn và các thủ tục đánh giá rủi ro khác (xác nhận kết quả phỏng vấn thông qua quan sát hoặc kiểm tra tài liệu).
  2. Một số yếu tố của môi trường kiểm soát của đơn vị có ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. Hiệu quả của việc thiết kế môi trường kiểm soát liên quan đến sự tham gia của bộ phận kiểm soát chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề, như:
  • Sự độc lập của bộ phận kiểm soát đối với lãnh đạo đơn vị và khả năng đánh giá của lãnh đạo đơn vị về hoạt động kiểm soát;
  • Hiểu biết của bộ phận kiểm soát về các nghiệp vụ kinh tế của đơn vị;
  • Kết quả đánh giá của bộ phận kiểm soát về tính phù hợp của báo cáo tài chính đối với khuôn khổ quy định trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.
  1. Khi kiểm toán viên nhà nước đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, sự tồn tại của một môi trường kiểm soát độc lập và thỏa đáng có thể là một yếu tố tích cực của đơn vị. Tuy nhiên, một môi trường kiểm soát thỏa đáng chỉ giúp giảm rủi ro do gian lận mà không thể ngăn chặn hoàn toàn gian lận. Ngược lại, những khiếm khuyết trong môi trường kiểm soát làm giảm hiệu quả của các kiểm soát, nhất là đối với gian lận.
  2. Bản thân môi trường kiểm soát không thể tự ngăn chặn hoặc tự phát hiện và sửa chữa một sai sót trọng yếu. Tuy nhiên, môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên nhà nước về tính hữu hiệu của các kiểm soát khác, do đó ảnh hưởng đến đánh giá về rủi ro có sai sót trọng yếu.

Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị để:
  • Xác định rủi ro hoạt động liên quan tới mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính;
  • Ước tính mức độ của rủi ro và đánh giá khả năng xảy ra rủi ro;
  • Quyết định các thủ tục kiểm toán thích hợp đối với các rủi ro đó.
  1. Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị giúp đơn vị xác định các rủi ro cần được quản lý. Một quy trình đánh giá rủi ro phù hợp với hoàn cảnh, bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của đơn vị giúp kiểm toán viên nhà nước phát hiện các rủi ro có sai sót trọng yếu. Kiểm toán viên nhà nước phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định và đánh giá:
  • Nếu đơn vị đã xây dựng quy trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu và đánh giá nội dung, kết quả và tính phù hợp của quy trình này hoặc xác định những khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ liên quan đến quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị trong việc không phát hiện được rủi ro có sai sót trọng yếu;
  • Nếu đơn vị chưa có một quy trình hoặc đã có quy trình nhưng chưa được chuẩn hóa, kiểm toán viên nhà nước phải trao đổi với lãnh đạo đơn vị về việc phát hiện và xử lý các rủi ro hoạt động liên quan tới mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính. Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ khi không có văn bản quy định quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị.

Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính bao gồm các quy trình có liên quan và trao đổi thông tin

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu về hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, như:
  • Các nhóm giao dịch trong hoạt động của đơn vị có tính chất quan trọng đối với báo cáo tài chính;
  • Các thủ tục được thực hiện trong hệ thống công nghệ thông tin hoặc thủ công để tạo lập, ghi chép, xử lý, chỉnh sửa các nghiệp vụ kinh tế khi cần thiết, ghi nhận vào sổ kế toán và trình bày báo cáo tài chính;
  • Các tài liệu kế toán liên quan, các thông tin hỗ trợ và các khoản mục cụ thể trên báo cáo tài chính được dùng để tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kể cả việc chỉnh sửa các thông tin không chính xác và cách thức dữ liệu được phản ánh vào sổ kế toán. Các tài liệu kế toán này có thể dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử;
  • Cách thức tiếp nhận và xử lý các thông tin, sự kiện, điều kiện có tính chất quan trọng đối với báo cáo tài chính;
  • Quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn vị, bao gồm cả các ước tính kế toán và thuyết minh quan trọng;
  • Các kiểm soát đối với những bút toán (như các bút toán hạch toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh, bút toán điều chỉnh, bút toán kết chuyển và khóa sổ cuối kỳ…).
  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu cách thức đơn vị trao đổi thông tin về vai trò, trách nhiệm và các vấn đề quan trọng khác liên quan tới báo cáo tài chính, như:
  • Trao đổi giữa lãnh đạo đơn vị và bộ phận kiểm soát;
  • Thông tin với các cơ quan bên ngoài.

Các hoạt động kiểm soát liên quan

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu những hoạt động kiểm soát liên quan đến cuộc kiểm toán mà theo xét đoán của kiểm toán viên nhà nước là cần thiết để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu và thiết kế các thủ tục kiểm toán tiếp theo đối với rủi ro đã đánh giá.
  2. Các hoạt động kiểm soát là các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo các chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị được thực hiện. Dù trong hệ thống công nghệ thông tin hay thủ công thì các hoạt động kiểm soát đều có những mục tiêu đa dạng và được áp dụng ở các cấp độ khác nhau. Các hoạt động kiểm soát cụ thể như:
  • Phê duyệt;
  • Đánh giá hoạt động;
  • Xử lý thông tin;
  • Các kiểm soát vật chất (khóa an toàn, két sắt, camera…);
  • Thực hiện nguyên tắc trong phân công nhiệm vụ…
  1. Các hoạt động kiểm soát liên quan đến cuộc kiểm toán là:
  • Các hoạt động kiểm soát có liên quan đến các rủi ro đáng kể và các hoạt động kiểm soát liên quan đến các rủi ro mà nếu chỉ thực hiện thử nghiệm cơ bản sẽ không cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, như quy định tại Đoạn 55 Chuẩn mực này; hoặc
  • Các hoạt động kiểm soát được xác định là có liên quan theo xét đoán của kiểm toán viên nhà nước.
  1. Xét đoán của kiểm toán viên nhà nước về một hoạt động kiểm soát có liên quan đến cuộc kiểm toán bị ảnh hưởng bởi những rủi ro đã xác định có sai sót trọng yếu và cho rằng việc kiểm tra tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát đó là cần thiết để xác định phạm vi thử nghiệm cơ bản.
  2. Kiểm toán viên nhà nước cần chú trọng vào việc phát hiện và tìm hiểu về các hoạt động kiểm soát các nghiệp vụ, giao dịch được coi là có mức độ rủi ro có sai sót trọng yếu cao hơn.
  3. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu cách thức đơn vị xử lý rủi ro phát sinh từ công nghệ thông tin khi đánh giá hoạt động kiểm soát của đơn vị, như:
  • Việc sử dụng công nghệ thông tin ảnh hưởng đến cách thức thực hiện các hoạt động kiểm soát. Dưới góc độ của kiểm toán viên nhà nước, các kiểm soát đối với hệ thống công nghệ thông tin (gồm các kiểm soát chung về công nghệ thông tin và các kiểm soát chương trình ứng dụng) được xác định là có hiệu quả khi duy trì được tính toàn vẹn của thông tin và tính bảo mật của dữ liệu được hệ thống thông tin xử lý; 
  • Các kiểm soát chung về công nghệ thông tin là các chính sách, thủ tục liên quan đến nhiều chương trình ứng dụng và hỗ trợ cho hiệu quả hoạt động của các kiểm soát chương trình ứng dụng. Các kiểm soát chung được áp dụng cho máy chủ và các môi trường người sử dụng đầu cuối. Các kiểm soát chung về công nghệ thông tin duy trì tính toàn vẹn của thông tin và tính bảo mật dữ liệu thường gồm các kiểm soát đối với:
  • Trung tâm dữ liệu và các hoạt động kết nối mạng;
  • Đầu tư mới, thay đổi và bảo trì hệ thống phần mềm;
  • Thay đổi chương trình;
  • An ninh truy cập;
  • Đầu tư mới, phát triển và bảo trì các hệ thống ứng dụng.
  • Các kiểm soát chương trình ứng dụng là các thủ tục thủ công hoặc tự động và thường ở cấp độ chu trình hoạt động, áp dụng đối với việc xử lý giao dịch của các chương trình ứng dụng riêng lẻ. Các kiểm soát chương trình ứng dụng là các kiểm soát mang tính ngăn chặn hoặc phát hiện sai sót để đảm bảo tính toàn vẹn của các dữ liệu kế toán. Các kiểm soát chương trình ứng dụng liên quan đến các thủ tục được sử dụng để tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch hoặc các dữ liệu tài chính khác nhằm đảm bảo các giao dịch phát sinh đã được phê duyệt, được ghi nhận và xử lý đầy đủ, chính xác (như kiểm tra tự động dữ liệu đầu vào, việc đánh số thứ tự kết hợp với việc theo dõi thủ công các báo cáo tổng hợp hoặc chỉnh sửa tại thời điểm nhập dữ liệu).

Giám sát các kiểm soát

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu những phương thức chủ yếu mà đơn vị sử dụng để giám sát kiểm soát nội bộ đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính, gồm các hoạt động kiểm soát liên quan đến tạo lập, xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và biện pháp khắc phục các khiếm khuyết trong kiểm soát của đơn vị.
  2. Giám sát các kiểm soát là hoạt động đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trong từng giai đoạn một cách kịp thời và thực hiện các biện pháp khắc phục cần thiết. Lãnh đạo đơn vị giám sát các kiểm soát thông qua hoạt động đánh giá liên tục, riêng biệt hoặc kết hợp cả hai. Hoạt động giám sát liên tục thường gắn liền với các hoạt động thường xuyên của một đơn vị. Các hoạt động giám sát của lãnh đạo đơn vị cũng sử dụng những thông tin thu thập từ bên ngoài (như các đánh giá, kết luận và kiến nghị của cơ quan quản lý) để xem xét các vấn đề hoặc lĩnh vực cần cải thiện.
  3. Nếu đơn vị có kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu, xác định các thông tin về kiểm toán nội bộ có liên quan đến cuộc kiểm toán để xác định nội dung, lịch trình, hoặc thu hẹp phạm vi các thủ tục kiểm toán sẽ thực hiện. Nếu trách nhiệm của kiểm toán nội bộ có liên quan đến việc lập báo cáo tài chính của đơn vị, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét các hoạt động mà kiểm toán nội bộ đã thực hiện, trong đó bao gồm việc soát xét kế hoạch và trao đổi về kế hoạch đó với kiểm toán nội bộ. CMKTNN 1610 – Sử dụng công việc của kiểm toán viên nội bộ trong kiểm toán tài chính quy định và hướng dẫn về sử dụng công việc của kiểm toán viên nội bộ.
  4. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu nguồn thông tin liên quan đến hoạt động giám sát của đơn vị và cơ sở để lãnh đạo đơn vị đánh giá các thông tin là đủ tin cậy cho mục đích giám sát.

Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu

  1. Để làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo, kiểm toán viên nhà nước phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh.

Cấp độ báo cáo tài chính

  1. Đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính:
  • Rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính là những rủi ro có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài chính và có ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu. Các rủi ro này có thể không phải là rủi ro phát hiện được với các cơ sở dẫn liệu cụ thể tại các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh. Các rủi ro này đại diện cho các tình huống có thể làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu (như lãnh đạo đơn vị khống chế kiểm soát nội bộ). Các rủi ro ở cấp độ báo cáo tài chính có thể liên quan đến việc xem xét của kiểm toán viên nhà nước đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.
  • Rủi ro ở cấp độ báo cáo tài chính xuất phát từ khiếm khuyết của môi trường kiểm soát (như sự thiếu năng lực của lãnh đạo đơn vị có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với báo cáo tài chính), do vậy, kiểm toán viên nhà nước phải có biện pháp xử lý tổng thể đối với rủi ro này.
  • Hiểu biết về kiểm soát nội bộ giúp kiểm toán viên nhà nước xem xét đánh giá:
  • Mức độ hoài nghi về tính chính trực của lãnh đạo đơn vị dẫn đến việc trình bày sai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính;
  • Hoài nghi về điều kiện và độ tin cậy của hồ sơ, tài liệu của đơn vị khó có thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.

Cấp độ cơ sở dẫn liệu

  1. Kiểm toán viên nhà nước cần xem xét rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh nhằm xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp. Khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, kiểm toán viên nhà nước có thể kết luận rằng rủi ro đã xác định có ảnh hưởng lan tỏa hơn đến tổng thể báo cáo tài chính và ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu. Các cơ sở dẫn liệu được kiểm toán viên nhà nước sử dụng để xem xét các loại sai sót tiềm tàng xảy ra được chia thành ba loại như sau:
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với các giao dịch và sự kiện trong kỳ được kiểm toán:
  • Tính phát sinh: Các giao dịch và các sự kiện được ghi nhận đã xảy ra và liên quan đến đơn vị;
  • Tính đầy đủ: Tất cả các giao dịch và sự kiện cần ghi nhận đã được ghi nhận;
  • Tính chính xác: Số liệu và dữ liệu liên quan đến các giao dịch và sự kiện đã ghi nhận được phản ánh một cách phù hợp;
  • Tính đúng kỳ: Các giao dịch và sự kiện được ghi nhận đúng kỳ kế toán;
  • Phân loại: Các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào đúng tài khoản.
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với số dư tài khoản vào cuối kỳ:
  • Tính hiện hữu: Tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu thực sự tồn tại;
  • Quyền và nghĩa vụ: Đơn vị nắm giữ các quyền liên quan đến tài sản thuộc sở hữu và đơn vị có nghĩa vụ với các khoản nợ phải trả của đơn vị;
  • Tính đầy đủ: Tất cả các tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu cần ghi nhận đã được ghi nhận đầy đủ;
  • Đánh giá và phân bổ: Tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu được thể hiện trên báo cáo tài chính theo giá trị phù hợp và những điều chỉnh liên quan đến đánh giá hoặc phân bổ đã được ghi nhận phù hợp.
  • Các cơ sở dẫn liệu đối với các trình bày và thuyết minh:
  • Tính hiện hữu, quyền và nghĩa vụ: Các sự kiện, giao dịch và các vấn đề khác được thuyết minh thực sự đã xảy ra và có liên quan đến đơn vị;
  • Tính đầy đủ: Tất cả các thuyết minh cần trình bày trên báo cáo tài chính đã được trình bày;
  • Phân loại và tính dễ hiểu: Các thông tin tài chính được trình bày, diễn giải và thuyết minh hợp lý, rõ ràng, dễ hiểu;
  • Tính chính xác và đánh giá: Thông tin tài chính và thông tin khác được trình bày hợp lý và theo giá trị phù hợp.

Các vấn đề xem xét khi đánh giá và xác định rủi ro có trọng yếu  

  1. Xác định rủi ro thông qua quá trình tìm hiểu về đơn vị và môi trường hoạt động của đơn vị, bao gồm các kiểm soát phù hợp liên quan đến rủi ro và xác định rủi ro các cơ sở dẫn liệu trong báo cáo tài chính của đơn vị.
  2. Đánh giá những rủi ro đã xác định và xem xét mức độ ảnh hưởng của rủi ro đó đến tổng thể báo cáo tài chính và tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu. Việc đánh giá rủi ro sẽ quyết định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo cần thực hiện. Phụ lục 02 Chuẩn mực này cung cấp một số tình huống và sự kiện cho thấy sự tồn tại của rủi ro có sai sót trọng yếu.
  3. Trong quá trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên nhà nước cần hiểu biết về các kiểm soát và xác định, đánh giá về mức độ ảnh hưởng, khả năng ngăn chặn hoặc phát hiện sửa chữa của các kiểm soát đối với các sai sót trọng yếu trong từng cơ sở dẫn liệu cụ thể (như các hoạt động kiểm soát mà đơn vị thiết kế nhằm đảm bảo nhân viên của đơn vị sẽ kiểm đếm và ghi nhận chính xác số liệu hàng tồn kho khi kiểm kê định kỳ hàng năm sẽ liên quan trực tiếp đến cơ sở dẫn liệu là tính hiện hữu và tính đầy đủ của số dư hàng tồn kho; hoặc thủ tục soát xét của bộ phận quản lý đối với báo cáo bán hàng hoặc số thu tại các chi nhánh, đơn vị trực thuộc chỉ liên quan gián tiếp đến cơ sở dẫn liệu là tính đầy đủ của doanh thu, do đó, kiểm soát này có thể ít hiệu quả trong việc giảm rủi ro cho cơ sở dẫn liệu “tính đầy đủ” so với các kiểm soát khác có liên quan trực tiếp, như thủ tục đối chiếu giữa chứng từ vận chuyển, tài liệu liên quan với hóa đơn bán hàng, biên lai thu phí…).

Rủi ro phải đặc biệt lưu ý khi kiểm toán

  1. Khi thực hiện quy trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên nhà nước phải dựa vào xét đoán chuyên môn để cân nhắc rủi ro đã xác định là rủi ro đáng kể hay không đáng kể. Khi xét đoán, kiểm toán viên nhà nước phải loại trừ ảnh hưởng của các kiểm soát đã được xác định liên quan đến rủi ro đó.
  2. Rủi ro đáng kể thường liên quan đến các giao dịch bất thường hoặc các vấn đề cần xét đoán. Các vấn đề cần xét đoán bao gồm các ước tính kế toán mà việc đo lường các ước tính đó chứa đựng yếu tố không chắc chắn. Các giao dịch thường xuyên, đơn giản được xử lý một cách có hệ thống thường ít phát sinh rủi ro đáng kể. Các giao dịch bất thường và vấn đề cần xét đoán, rủi ro có sai sót trọng yếu thường nhiều hơn và phát sinh từ:
  • Sự can thiệp nhiều hơn của lãnh đạo đơn vị vào việc hạch toán kế toán;
  • Can thiệp thủ công nhiều hơn vào quá trình thu thập và xử lý dữ liệu;
  • Các tính toán hoặc nguyên tắc kế toán phức tạp;
  • Tính chất của các giao dịch bất thường khiến đơn vị khó có thể thực hiện các kiểm soát một cách hiệu quả đối với những rủi ro đó.
  • Nguyên tắc kế toán đối với các ước tính kế toán hoặc ghi nhận doanh thu, thu nhập, chi phí được diễn giải theo cách khác nhau;
  • Các xét đoán mang tính chủ quan hoặc phức tạp.
  1. Khi xét đoán rủi ro nào được coi là rủi ro đáng kể, kiểm toán viên nhà nước tối thiểu phải xem xét những nội dung sau:
  • Rủi ro đó là rủi ro do gian lận hay nhầm lẫn;
  • Rủi ro đó có liên quan tới những thay đổi lớn trong quản lý kinh tế, lĩnh vực kế toán và các lĩnh vực khác; 
  • Mức độ phức tạp của các giao dịch;
  • Rủi ro đó gắn liền với các giao dịch quan trọng với các bên liên quan;
  • Mức độ chủ quan trong việc định lượng thông tin tài chính liên quan tới rủi ro, đặc biệt là những thông tin mà việc định lượng còn yếu tố chưa chắc chắn;
  • Rủi ro đó có liên quan tới những giao dịch lớn nằm ngoài phạm vi hoạt động bình thường của đơn vị, hoặc liên quan tới giao dịch có dấu hiệu bất thường.
  1. Khi đã xác định có rủi ro đáng kể, kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu các kiểm soát của đơn vị, kể cả các hoạt động kiểm soát và biện pháp xử lý có liên quan đến rủi ro đó. Trường hợp, các kiểm soát mà lãnh đạo đơn vị áp dụng đối với các rủi ro đáng kể nhưng vẫn không xử lý được các rủi ro này, kiểm toán viên nhà nước phải coi đây là khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ của đơn vị để xác định phạm vi và thủ tục kiểm toán phù hợp tiếp theo.

Những rủi ro mà nếu chỉ thực hiện các thử nghiệm cơ bản sẽ không cung cấp đầy đủ bằng chứng thích hợp

  1. Kiểm toán viên nhà nước xét đoán rằng nếu chỉ thực hiện các thử nghiệm cơ bản sẽ không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp đối với một số loại rủi ro liên quan tới việc ghi chép không chính xác hoặc không đầy đủ các giao dịch, số dư tài khoản phát sinh có tính chất thường xuyên và quan trọng mà thường được xử lý tự động, ít hoặc không được xử lý thủ công. Trong trường hợp này, các kiểm soát của đơn vị được coi là có liên quan đến cuộc kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu về các kiểm soát đó.

Rà soát lại kết quả đánh giá rủi ro

  1. Đánh giá của kiểm toán viên nhà nước về rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán khi kiểm toán viên nhà nước thu thập được thêm bằng chứng kiểm toán. Trường hợp các bằng chứng kiểm toán thu thập được từ việc thực hiện thủ tục kiểm toán tiếp theo hoặc các thông tin mới thu thập được không nhất quán với những bằng chứng kiểm toán ban đầu đã đánh giá rủi ro thì kiểm toán viên nhà nước phải xem xét lại những đánh giá trước đó và sửa đổi các thủ tục kiểm toán đã đề ra (như việc đánh giá rủi ro dựa vào hoạt động hữu hiệu của một số kiểm soát nhưng khi tiến hành thử nghiệm đối với các kiểm soát này, kiểm toán viên nhà nước thu thập được bằng chứng kiểm toán cho thấy các kiểm soát đó không hoạt động hữu hiệu hoặc khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản, kiểm toán viên nhà nước phát hiện ra các sai sót về số liệu hoặc các sai sót có tần suất xảy ra lớn hơn so với dự kiến khi đánh giá rủi ro).

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

  1. Kiểm toán viên nhà nước lập và lưu trữ trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1230 – Tài liệu, hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính, đồng thời lưu ý lập và lưu trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán những vấn đề sau:
  • Những trao đổi, thảo luận giữa các thành viên trong Đoàn kiểm toán và các chỉ đạo quan trọng đã thống nhất liên quan đến đánh giá khả năng báo cáo tài chính của đơn vị có thể xảy ra sai sót trọng yếu;
  • Các nội dung chính liên quan đến hiểu biết về đơn vị được kiểm toán, môi trường hoạt động của đơn vị, các bộ phận hợp thành của kiểm soát nội bộ và các nguồn thông tin mà kiểm toán viên nhà nước đã sử dụng để thu thập các hiểu biết và các thủ tục đánh giá rủi ro đã thực hiện;
  • Các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được xác định, đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu;
  • Những rủi ro đã xác định và các kiểm soát liên quan mà kiểm toán viên nhà nước đã tìm hiểu.

 

TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

(Đã ký)

Hồ Đức Phớc

 

 

Phụ lục 01

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT NỘI DUNG MỘT SỐ ĐOẠN

CỦA CMKTNN 1315

 

Thông tin nội bộ sử dụng để đo lường và đánh giá (hướng dẫn đoạn 17iv)

A1.  Kiểm toán viên nhà nước có thể xem xét một số thông tin nội bộ được đơn vị được kiểm toán sử dụng để đo lường và đánh giá kết quả hoạt động, như:

  • Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động chủ yếu (tài chính và phi tài chính), các tỉ suất quan trọng, những xu hướng và số liệu thống kê hoạt động; mục tiêu, phạm vi thực hiện của dự án, chương trình;
  • Phân tích kết quả hoạt động, tiến độ thực hiện theo từng giai đoạn;
  • Kế hoạch tài chính, dự toán, tình hình biến động và các báo cáo đánh giá hoạt động của các bộ phận chức năng;
  • Đánh giá kết quả công việc của nhân viên và chính sách lương, thu nhập tăng thêm;
  • So sánh kết quả hoạt động của đơn vị với các đơn vị khác cùng lĩnh vực, ngành nghề hoạt động.

Các kiểm soát liên quan đến cuộc kiểm toán (hướng dẫn đoạn 18)

A2.  Khi kiểm toán viên nhà nước xét đoán về một kiểm soát đơn lẻ hay kết hợp với các kiểm soát khác có liên quan đến cuộc kiểm toán, các yếu tố có thể xem xét bao gồm:

  • Tính trọng yếu;
  • Mức độ nghiêm trọng của các rủi ro liên quan;
  • Quy mô của đơn vị;
  • Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động của đơn vị;
  • Tính đa dạng và sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị;
  • Pháp luật và các quy định có liên quan;
  • Các tình huống và các thành phần áp dụng của kiểm soát nội bộ;
  • Đặc điểm và mức độ phức tạp của các hệ thống trong kiểm soát nội bộ của đơn vị;
  • Sự tồn tại và cách thức một kiểm soát cụ thể, riêng lẻ hay kết hợp với các kiểm soát khác, có thể ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu.

A3.  Các kiểm soát đối với tính đầy đủ và chính xác của thông tin được đơn vị cung cấp liên quan đến cuộc kiểm toán nếu kiểm toán viên nhà nước dự định sử dụng thông tin đó để thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo. Các kiểm soát liên quan đến các mục tiêu hoạt động và tính tuân thủ cũng có thể liên quan đến cuộc kiểm toán nếu các kiểm soát đó liên quan đến các dữ liệu mà kiểm toán viên nhà nước đánh giá hoặc sử dụng khi thực hiện các thủ tục kiểm toán.

A4.  Kiểm soát nội bộ đối với việc bảo vệ tài sản nhằm tránh việc mua, sử dụng và thanh lý không đúng thẩm quyền có thể bao gồm các kiểm soát liên quan đồng thời đến việc lập, trình bày báo cáo tài chính và các mục tiêu hoạt động của đơn vị. Kiểm toán viên nhà nước đánh giá các kiểm soát này thường giới hạn ở các thủ tục liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính.

A5.  Khi thu thập thông tin về các kiểm soát có liên quan đến cuộc kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá về mặt thiết kế của các kiểm soát và xác định việc triển khai các kiểm soát này tại đơn vị bằng cách tiến hành thêm một số thủ tục kiểm toán ngoài việc phỏng vấn các nhân viên của đơn vị.

A6.  Khi đánh giá về mặt thiết kế của một kiểm soát, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét kiểm soát đó, riêng lẻ hoặc kết hợp cùng các kiểm soát khác có khả năng ngăn chặn hoặc phát hiện và sửa chữa một cách hiệu quả các sai sót trọng yếu. Một kiểm soát được thiết kế không phù hợp có thể là một khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ của đơn vị.

A7. Thủ tục đánh giá rủi ro để thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán về thiết kế và thực hiện các kiểm soát liên quan có thể bao gồm:

  • Phỏng vấn các nhân viên của đơn vị;
  • Quan sát việc áp dụng các kiểm soát cụ thể;
  • Kiểm tra các báo cáo và tài liệu;
  • Kiểm tra các giao dịch trên hệ thống thông tin liên quan đến báo cáo tài chính;
  • Để đạt được mục tiêu thu nhập bằng chứng kiểm toán, nếu kiểm toán viên nhà nước sử dụng thủ tục phỏng vấn thì cần phải sử dụng kết hợp với các thủ tục khác.

Đặc điểm của các yếu tố thủ công và yếu tố tự động trong kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên nhà nước (hướng dẫn đoạn 23)

A8. Việc sử dụng các yếu tố thủ công hay tự động trong kiểm soát nội bộ cũng ảnh hưởng đến cách thức tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch:

  • Các kiểm soát thủ công bao gồm thủ tục phê duyệt, rà soát các giao dịch, đối chiếu và theo dõi các khoản đối chiếu đó. Ngoài ra, đơn vị cũng có thể sử dụng các kiểm soát tự động để tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch theo dạng điện tử để thay thế các tài liệu bằng giấy.
  • Các kiểm soát trong hệ thống công nghệ thông tin là sự kết hợp cả kiểm soát tự động (Ví dụ các kiểm soát được thiết kế trong các chương trình máy tính) và kiểm soát thủ công. Các kiểm soát thủ công độc lập với công nghệ thông tin, sử dụng các thông tin do công nghệ thông tin tạo ra, hoặc có thể giới hạn trong việc giám sát tính hữu hiệu của công nghệ thông tin và của các kiểm soát tự động để giải quyết các tình huống ngoại lệ. Khi sử dụng công nghệ thông tin để tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch hay các dữ liệu tài chính khác để đưa vào báo cáo tài chính, các hệ thống và chương trình phần mềm gồm các kiểm soát liên quan tới các cơ sở dẫn liệu tương ứng đối với các tài khoản trọng yếu, hoặc mang tính quyết định đối với hoạt động hữu hiệu của các kiểm soát thủ công có sự phụ thuộc vào công nghệ thông tin.

A9. Công nghệ thông tin có thể mang đến những rủi ro cụ thể cho kiểm soát nội bộ của đơn vị, như:

  • Tin tưởng vào hệ thống hoặc chương trình trong khi hệ thống hoặc chương trình đó lại xử lý không chính xác dữ liệu hoặc sử dụng dữ liệu không chính xác để xử lý, hoặc cả hai tình huống.
  • Việc truy cập dữ liệu trái phép dẫn đến dữ liệu bị xóa hoặc bị thay đổi không phù hợp (như hạch toán các nghiệp vụ không đúng thẩm quyền và không có thật). Các rủi ro này gia tăng khi có nhiều người sử dụng truy cập vào một cơ sở dữ liệu chung.
  • Khả năng nhân viên phụ trách hệ thống công nghệ thông tin có được đặc quyền truy cập nhiều hơn mức cần thiết so với nhiệm vụ được giao, do đó phá vỡ sự phân nhiệm;
  • Những thay đổi trái phép dữ liệu gốc, hệ thống hoặc chương trình;
  • Can thiệp thủ công không thích hợp;
  • Khả năng mất dữ liệu hoặc không thể truy cập vào dữ liệu khi cần thiết.

A10. Các yếu tố thủ công trong kiểm soát nội bộ có thể phù hợp hơn đối với các tình huống cần đến sự xét đoán và thận trọng, như:

  • Các giao dịch lớn, bất thường hoặc không xảy ra thường xuyên;
  • Các tình huống mà sai sót khó xác định và khó dự đoán;
  • Các tình huống thường xuyên biến đổi đòi hỏi thêm các kiểm soát ngoài phạm vi các kiểm soát tự động nếu có;
  • Giám sát tính hữu hiệu của kiểm soát tự động.

A11. Các kiểm soát thủ công trong kiểm soát nội bộ thường có độ tin cậy thấp hơn so với kiểm soát tự động do kiểm soát thủ công dễ bị bỏ sót, bị khống chế, dễ mắc phải các sai sót đơn giản và có thể không đảm bảo tính nhất quán. Kiểm soát thủ công thường không phù hợp với các tình huống sau:

  • Khối lượng giao dịch lớn và thường xuyên lặp lại hoặc các tình huống lỗi có thể dự đoán, có thể được ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa bằng các kiểm soát được tự động hóa;
  • Các hoạt động kiểm soát mà cách thức thực hiện có thể thiết kế và tự động hóa một cách phù hợp.

A12. Phạm vi và đặc điểm của các rủi ro đối với kiểm soát nột bộ thường thay đổi tùy theo bản chất và đặc điểm của hệ thống thông tin của đơn vị. Đơn vị xử lý những rủi ro từ việc sử dụng công nghệ thông tin hoặc sử dụng các yếu tố thủ công trong kiểm soát nội bộ bằng cách thiết lập các kiểm soát hữu hiệu dựa trên đặc điểm hệ thống thông tin của đơn vị.


Phụ lục 02

NHỮNG TÌNH HUỐNG VÀ SỰ KIỆN

CÓ THỂ NHẬN DIỆN RỦI RO CÓ SAI SÓT TRỌNG YẾU

 

Các ví dụ dưới đây bao gồm rất nhiều tình huống và sự kiện khác nhau. Tuy nhiên, không phải tất cả các tình huống và sự kiện này cho thấy sự tồn tại của rủi ro có sai sót trọng yếu đều liên quan đến mọi cuộc kiểm toán, như:

  • Bội chi ngân sách do hệ thống kiểm soát ngân sách yếu kém;
  • Cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước hoặc tư nhân hóa;
  • Những thay đổi điều chỉnh lớn đối với chính sách, chế độ hiện có hoặc áp dụng quy định kế toán mới;
  • Các chương trình, dự án, đề án không có đủ nguồn lực và kinh phí;
  • Chi tiêu công tăng và lạm phát cao;
  • Mua sắm trang thiết bị chuyên dụng trong các lĩnh vực đặc thù (như quốc phòng, an ninh);
  • Những hoạt động điều tra đặc biệt;
  • Các thay đổi trong cơ cấu, tổ chức bộ máy và ngành nghề, chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực của đơn vị (Mở rộng phạm vi hoạt động trên nhiều địa điểm mới; thay đổi trong đơn vị như những hoạt động mua sắm lớn, tái cơ cấu hoặc các sự kiện bất thường khác; tồn tại nhiều mối quan hệ liên doanh, liên kết phức tạp; thiếu hụt về nhân sự có khả năng phù hợp về kế toán, lập báo cáo tài chính; thay đổi nhân sự chủ chốt);
  • Dấu hiệu lãng phí, thất thoát;
  • Mối quan hệ cộng tác giữa lĩnh vực công và tư.
  • Các hoạt động ở những khu vực kinh tế không ổn định (như ở các nước mà tiền tệ bị mất giá nghiêm trọng, hoặc nền kinh tế bị lạm phát ở mức cao);
  • Các hoạt động liên quan đến quy định pháp lý có độ phức tạp cao;
  • Các vấn đề về tính hoạt động liên tục hay tính thanh khoản, bao gồm việc mất các khách hàng quan trọng;
  • Những thay đổi trong dây chuyền cung cấp;
  • Phát triển hoặc giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc sử dụng dây chuyền sản xuất mới;
  • Có những giao dịch lớn với các bên liên quan;
  • Những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ, nhất là những khiếm khuyết không được lãnh đạo đơn vị xử lý;
  • Thay đổi trong môi trường công nghệ thông tin; cài đặt hệ thống công nghệ thông tin mới, quan trọng liên quan đến việc lập báo cáo tài chính;
  • Việc thanh tra hoặc điều tra của các cơ quan chức năng của Nhà nước đối với hoạt động hoặc kết quả tài chính của đơn vị;
  • Những sai sót, nhầm lẫn trong quá khứ hoặc có những điều chỉnh có giá trị lớn tại thời điểm cuối năm;
  • Các giao dịch bất thường có giá trị lớn;
  • Các vụ kiện tụng chưa được giải quyết và các khoản nợ tiềm tàng.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here